Source : http://www.vcci.vn/thi-truong/
Công ty cổ phần Vật liệu xây dựng Thái Bình
Địa chỉ: Km 5, đường Hùng Vương, thành phố Thái Bình - tỉnh Thái Bình.
Giám đốc: Lê Duy Hải
Ngày thành lập: 8/12/2006
Điện thoại: +84 (36) 831.062 - 0913.291703
Ngành nghề kinh doanh: Xây dựng - Vật liệu xây dựng
Công ty cổ phần Vật liệu xây dựng Thái Bình
Công ty cổ phần VLXD Thái Bình (Tên giao dịch Tiếng Anh Thai Binh Building material share company) tiền thân là Công ty SXKD- VLXD Thái Bình được chuyển đổi theo Quyết định số 1352/QĐ-UB ngày 23/10/2001 của UBND Tỉnh Thái Bình mà nền móng ban đầu là Xí nghiệp gạch Nghĩa Chính được thành lập tháng 10/1969.
Từ khi thành lập đến năm 1992 trong suốt 23 năm xí nghiệp gạch Nghĩa Chính luôn hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh mà UBND tỉnh giao cho và cũng là lá cờ đầu của ngành Xây dựng Thái Bình những năm đầu đổi mới 1989 đến 1993. Do đó UBND tỉnh Thái Bình đã giao cho xí nghiệp phải tiếp nhận một số đơn vị trong ngành Xây dựng Thái Bình làm ăn thua lỗ kéo dài là Xí nghiệp gạch Quốc Tuấn, Xí nghiệp vật liệu huyện Vũ Thư và tổ chức xây dựng 1 phân xưởng sản xuất gạch giúp tỉnh bạn Lào Cai (tỉnh mới tái lập ). Từ việc sát nhập 1 số đơn vị do vậy phạm vi hoạt động rộng, số công nhân lao động tăng thêm, thời gian này thực hiện Nghị định 388/NĐ-CP của Chính phủ về sắp xếp thành lập lại doanh nghiệp Nhà nước. Xí nghiệp được thành lập lại với với mô hình tổ chức là Công ty sản xuất kinh doanh Vật liệu xây dựng Thái Bình theo thông báo số 330/TB- XD ngày 17/11/1992 của Bộ trưởng Bộ xây dựng và quyết định 434/QĐ-UB ngày 20/11/1992 của chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình. Đến tháng 01/1993 thể theo đề nghị của UBND huyện Vũ Thư được UBND tỉnh Thái Bình chấp thuận cho phép đơn vị tiếp nhận xí nghiệp vật liệu xây dựng của huyện Vũ Thư. Từ đó Công ty được UBND tỉnh cho cơ cấu tổ chức tại quyết định số 193/QĐ-UB ngày 10/5/1994 của chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình.
Công ty có 4 xí nghiệp trực thuộc, 1 phân xưởng, với 4 phòng nghiệp vụ gồm:
o XN gạch Nghĩa Chính: Tổ 14 - Phường Phú Khánh - Thành Phố Thái Bình.
o XN Quốc Tuấn : Xã Quốc Tuấn - huyện Kiến Xương- tỉnh Thái Bình.
o XN Vũ Hội : Xã Vũ Hội - huyện Vũ Thư - tỉnh Thái Bình.
o XN gạch không nung Vũ Thư - thị trấn Vũ Thư - tỉnh Thái Bình.
o Phân xưởng gạch Từ Châu - xã Hoà Bình - huyện Vũ Thư - tỉnh Thái Bình.
Về bộ máy lãnh đạo các xí nghiệp có giám đốc, phó giám đốc, Phân xưởng có quản đốc, cửa hàng có cửa hàng trưởng, 4 xí nghiệp trực thuộc có con dấu trực thuộc Công ty.
Văn phòng công ty có 4 phòng:
+ Phòng Tổ chức hành chính.
+ Phòng Tài vụ - kế toán.
+ Phòng Kế hoạch kỹ thuật.
+ Phòng Kinh tế thị trường.
Về các tổ chức chính trị Công ty có Đảng bộ và 5 chi bộ trực thuộc, có Công đoàn cơ sở và công đoàn bộ phận của các đơn vị trực thuộc, có đoàn thanh niên công sản Hồ Chí Minh và các chi đoàn, có hội Cựu chiến binh (có 95 bộ đội xuất ngũ chuyển ngành qua các thời kỳ). Có hội khuyến học Công ty. Từ khi thành lập năm 1969 đến năm 2001 trong suất thời gian 32 năm xây dựng và phát triển Công ty luôn hoàn thành kế hoạch sản xuất, nghĩa vụ đối với Nhà nước và người lao động.
Trong thời gian 32 năm xây dựng và trưởng thành tập thể cán bộ CNV toàn Công ty đã được Nhà nước tặng thưởng hai Huân chương lao động hạng ba và hạng hai, được Chính phủ tặng cờ thi đua, Bộ Xây dựng tặng bằng khen, Tỉnh uỷ Thái Bình tặng cờ Đảng bộ vững mạnh xuất sắc UBND tỉnh tặng cờ thi đua xuất sắc trong 6 năm liền đơn vị dẫn đầu ngành xây dựng. Đảng bộ luôn giữ vững Đảng bộ trong sạch vững mạnh xuất sắc, tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên cũng được tặng thưởng nhiều cờ thi đua và bằng khen của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam và trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh.
Song điều quan trọng hơn là từ khi Công ty được chuyển đổi sang Công ty cổ phần sự phát triển lại càng bền vững và đạt hiệu quả kinh tế cao hơn các năm chưa cổ phần hoá.
Thông tin khác
1. Kết quả sản xuất gạch Tuynel các loại
Năm 2001 chưa cổ phần hoá sản xuất và tiêu thụ = 20 triệu viên doanh số = 5,3 tỷ đồng
Năm 2002 năm đầu cổ phần hoá sản xuất tiêu thụ 32 triệu viên = 160% so với cùng kỳ, doanh số 8,1 tỷ đồng so với cùng kỳ đạt 152,8%.
Năm 2003 năm thứ 2 cổ phần hoá sản xuất tiêu thụ 50 triệu viên = 156.2% so với cùng kỳ, doanh số 13 tỷ đồng so với cùng kỳ đạt 160,5%.
Năm 2004 kế hoạch đề ra là sản xuất và tiêu thụ 70 triệu viên (Riêng 9 tháng sản xuất đạt 51,8 triệu viên, thiêu thụ đạt 41,7 triệu doanh số đạt 11,9 tỷ đồng)
2. Thu nhập của người lao động
Thu nhập năm 2001 có 308 người chưa cổ phần hoá đạt 600.000 đồng/người/tháng.
Năm 2002 đạt 810.000 đồng/người/tháng cho 365 người.
Năm 2003 đạt 900.000 đồng/ người/tháng cho 445 người.
Riêng 9 tháng năm 2004 tiền lương bình quân đạt 1.028.750 đồng/người/tháng cho 525 người.
3. Nộp ngân sách và các quỹ cho người lao động
Năm 2001 chưa cổ phần hoá kế hoạch tỉnh giao 510 triệu đồng, thực hiện 522,5 triệu đồng bằng 102,5%.
Năm 2002 kế hoạch tỉnh giao 610 triệu đồng thực hiện 672 triệu đồng bằng 111,9%.
Năm 2003 kế hoạch tỉnh giao 732 triệu đồng thực hiện 1.066,8 triệu đồng bằng 145,74%.
Năm 2004 Kế hoạch tổng dự kiến nộp cả năm về ngân sách và các quỹ cho người lao động là 1.810 triệu đồng bằng 135,58% kế hoạch. Riêng nộp ngân sách 9 tháng là 600 triệu còn 600 triệu đồng nộp trong quý 4/2004. Nộp các quỹ cho 525 người lao động kế hoạch tỉnh giao 610 triệu thực hiện 9 tháng nộp 480 triệu còn 320 triệu nộp trong quý 4/2004.
Số liệu so sánh trước khi cổ phần hoá cho đến nay.
- Về sản lượng 64 triệu/20 triệu tăng 320%.
- Về doanh số 18 tỷ/5,3 tỷ đồng tăng 339%.
- Về nộp ngân sách 1200 triệu/303 triệu tăng 396% (nếu so với năm 2000 trở về trước thì số nộp ngân sách tăng 740% gấp 7,4 lần (1200 triệu/162 triệu).
- Về lao động: 525 người/308 người tăng 170,4%.
- Thu nhập của người lao động 900.000 đồng/600.000 tăng 150%.
- Tăng trưởng về TSCĐ và vốn SXKD 25 tỷ đồng/9,3 tỷ đồng tăng 268,8%.
- Lợi tức của cổ đông đạt cao hơn lãi xuất tiền vay ngân hàng từ 10%/năm đến 14%/năm.
4. Kết quả sản xuất và lãi cổ tức qua 2 năm
Năm 2002 lãi 60 triệu, cổ tức trả 9,6%/năm.
Năm 2003 lãi 353 triệu, eo tức trả 14%/năm.
Năm 2004 dự kiến lãi 850 triệu, cổ tức dự kiến trả 14%/năm.
Gạch Tuynel 6 lỗ
Ðơn giá : 1.200 VNÐ/viên
Giảm giá : 0 VNÐ/viên
Giá bán : 1.200 VNÐ/viên
Mô tả chi tiết :
- Kích thước: 220x105x150 mm
- Độ rỗng: 40%
- Cường độ chịu nén: ≥ 75 kg/cm2
- Độ hút nước: 8 ÷ 14%
- Trọng lượng: 3,40 kg/viên
- Công dụng: Xây tường bao, cách âm, cách nhiệt
Gạch Tuynel được sản xuất từ nguyên liệu đất sét tốt được khai thác ngay trên địa bàn Thái Bình. Được phơi, sấy và nung trong điều kiện chuẩn để cho ra đời những sản phẩm có kích thước, chất lượng, màu sắc ổn định đáp ứng được những tiêu chuẩn khắt khe của ngành xây dựng. Với dây chuyền công nghệ cao, đồng bộ: thiết bị hệ tạo hình nhào, cán thô, cán mịn, nhào, lọc thải rác, tạo cho viên gạch có độ nén cao và sạch. Hệ khuôn mẫu chuẩn, cho sản phẩm gạch đạt quy chuẩn tuyệt đối về kích thước của viên gạch và kích thước quy chuẩn lỗ rỗng của gạch lỗ. Quy trình phơi sấy luôn đảm bảo cho gạch mộc khô đều từ từ, chống cong vênh, rạn nứt
Chất lượng ổn định cộng thêm vào đó là đội ngũ cán bộ kỹ thuật có trình độ và tay nghề, đội ngũ bán hàng linh hoạt, phục vụ tận tình, chu đáo nên sản phẩm của Nhà máy đã nhanh chóng nhận được sự quan tâm của các đơn vị thi công, xây dựng. Những năm qua, nhà máy đã dành một lượng ngân sách lớn mua sắm thiết bị máy móc và cải tạo cơ sở hạ tầng trong khuôn viên của mình. Đặc biệt đầu tư vào ứng dụng khoa học công nghệ nung gạch chất lượng cao. Đến nay, toàn bộ sản phẩm đã bảo đảm 100% kế hoach sản xuất kinh doanh của Nhà máy, được nhân dân và các nhà thầu xây dựng tin dùng, giảm hẳn ô nhiễm môi trường, tiết kiệm chi phí đầu vào và cải thiện cơ bản điều kiện làm việc của công nhân. Nhiều công trình dân dụng, công trình công nghiệp đòi hỏi chất lượng cao đã liên hệ đề nghị cung cấp sản phẩm như: trường phổ thông năng khiếu tỉnh, trụ sở công an tỉnh, khu làm việc của tỉnh đội....
Với hướng đi đúng và hiệu quả, tin rằng trong tương lai, Nhà máy sẽ phát huy tốt nội lực, đưa sản xuất kinh doanh phát triển hơn, mở rộng thị trường tiêu thụ, đảm bảo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, và góp phần tích cực vào việc nộp ngân sách Nhà nước. Đồng thời tạo niềm tin vững chắc cho mọi công trình.
Kích thước: 220(+/-6)mm x 105(+/-4)mm x 60(+/-3)mm
Độ rỗng : <=40% thể tích
Độ hút nước : <=16% khối lượng
Cường độ nén : >= 50.105 N/m2
Công dụng : Xây tường
Gạch Tuynel nửa 6 lỗ
Gạch Tuynel 6 lỗ
Kích thước: 220(+/-6)mm x 135(+/-4)mm x 100(+/-3)mm
Độ rỗng : <=60% thể tích
Độ hút nước : <=16% khối lượng
Cường độ nén : >= 35.105 N/m2
Công dụng : Xây tường
Gạch Tuynel 8 lỗ
Tham khảo thêm
Dự án đầu tư nhà máy sản xuất gạch Tuynel DACOM
GIỚI THIỆU CHUNG:
Địa điểm: cụm Công nghiệp Bình Yên - huyện Tiên Phước - tỉnh Quảng Nam
Dự án đầu tư nhà máy gạch sẽ đảm bảo các yếu tố sau:
Sản xuất công nghiệp.
• Phù hợp với điều kiện kinh tế và khả năng quản lý của Công ty.
• Công nghệ sản xuất tiên tiến, hiệu quả, tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu, giảm thiểu được lao động thủ công nặng nhọc và ô nhiễm môi trường như nóng, bụi, khói trong sản xuất gạch nung.
• Thiết bị sản xuất có mức cơ giới hóa cao trong từng công đoạn sản xuất như chế biến, tạo hình, hong phơi, sấy, nung và vận chuyển trong nhà máy để nâng cao chất lượng sản phẩm.
• Sản phẩm gạch sau nung đạt chất lượng theo quy định trong tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 1451 – 1998 cho gạch rỗng và TCVN - 1450 cho gạch đặc.
Mục tiêu:
• Nhằm đáp ứng chủ trương đầu tư xây dựng phát triển kinh tế của công ty và phù hợp với quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng của tỉnh.Góp phần đa ngành sản xuất vật liệu xây dựng địa phương Huyện Tiên Phước thành một trong những ngành sản xuất chính và đa sản xuất công nghiệp về nông thôn..
• Đáp ứng nhu cầu gạch nung cho xây dựng tại địa phương các khu công nghiệp trong tỉnh, các huyện lân cận và thành phố Tam Kỳ.....
• Tạo việc Làm có thu nhập bình quân 1,3 triệu đồng/1tháng cho khoản 150 lao động.
• Tạo doanh thu cho doanh nghiệp và tăng nguồn thu ngân sách.
Đầu tư:
• Diện tích: 02 ha.
• Tổng vốn đầu tư: 7 tỷ đồng.
• Thời gian hoạt động: Quý III/2009.
• Công suất tối đa: 20 triệu viên/1năm.
• Công suất tối da: 20 triệu viên/1năm. Trong đó:
- Công suất dự kiến thời điểm Quý III tương đương 12-14 triệu viên/1năm.
- Doanh thu trong 1 năm tương đương 10 tỷ đồng.
CÁC SẢN PHẨM CHÍNH:
Gạch đặc
• Kích thước (mm): 175 x 75 x 50
• Trọng lượng (kg): 2.2kg
• Độ sai lệch kích thước: 1%
• Cường độ chịu nén:
• Cường độ chịu uốn:
• Độ hút nước: 6 – 9%
Gạch 2 lỗ
• Kích thước: 180 x 80 x 45
• Trọng lượng: 1.8 kg
• Độ sai lệch kích thước: 1%
• Cường độ chịu nén: > 12.5 MPa
• Cường độ chịu uốn: > 4 MPa
• Độ hút nước: 6 – 9 %
• Số lượng sử dụng: 105 viên/m2
Gạch 4 lỗ
• Kích thước (mm): 180 x 80 x 80
• Trọng lượng: 1.4 kg
• Độ sai lệch kích thước: 1%
• Cường độ chịu nén: > 7 MPa
• Cường độ chịu uốn: > 2.5 MPa
• Độ hút nước: < 14%
• Số lượng sử dụng: 58 viên/m2
Gạch 6 lỗ
• Kích thước: 175 x 110 x 75
• Trọng lượng: 2. 2 kg
• Độ sai lệch kích thước: 1%
• Cường độ chịu nén: > 6 Mpa
• Cường độ chịu uốn: > 1 MPa
• Độ hút nước: 6 – 9 %
Gạch 11 lỗ
• Kích thước (mm): 220x105x60
• Trọng lượng: 2. 3 kg
• Độ sai lệch kích thước: 1%
• Cường độ chịu nén: > 28 Mpa
• Độ hút nước: 6 – 9 %
• Số lượng sử dụng: 40 viên/m2
Gạch 3 lỗ
• Kích thước (mm): 220x100x70
• Trọng lượng: 2. 6 kg
• Độ sai lệch kích thước: 1%
• Cường độ chịu nén: > Mpa
• Độ hút nước: 6 – 9 %
• Số lượng sử dụng: 54 viên/m2
DÂY CHUYỀN SẢN XUẤT
Máy nghiền xa luân XL-1800 Máy nhào ép chân không EVA 420
Dây chuyền thiết bị chế biến, tạo hình Máy cắt gạch tự động
http://www.dacom.com.vn/vietnamese/content/view/34/37/
Địa lí Trung Quốc
Trung Quốc có diện tích 9.571.300 km² chiếm 65% đất thổ của thế giới, có diện tích gấp 29 lần Việt Nam. Từ Bắc sang Nam có chiều dài là 4000 km, từ Tây sang Đông là 5000 km, có đường biên giới với 14 quốc gia và lãnh thổ bao gồm: Nga, Mông Cổ, Triều Tiên, Việt Nam, Myanma, Bhutan, Nepal, Ấn Độ, Pakistan, Afghanistan, Tajikistan, Kazakhstan, Kyrgyzstan và Lào.
Địa hình chung
Cao và hiểm trở, 60% diện tích là núi cao trên 1000 m. Địa hình cao về phía Tây và thấp dần về phía Đông.
Địa lý Trung Quốc kéo dài khoảng 5.026 km ngang qua theo khối lục địa Đông Á giáp với biển Đông Trung Hoa, vịnh Triều Tiên,Hoàng Hải, và biển Đông, giữa Bắc Triều Tiên và Việt Nam trong một hình dạng thay đổi của các đồng bằng rộng lớn, các sa mạc mênh mông và các dãy núi cao chót vót, bao gồm các khu vực rộng lớn đất không thể ở được. Nửa phía Đông của quốc gia này là các vùng duyên hải rìa các đảo là một vùng bình nguyên phì nhiêu, đồi và núi, các sa mạc và các thảo nguyên và các khu vực cận nhiệt đới. Nửa phía Tây của Trung Quốc là một vùng các lưu vực chìm trong các cao nguyên, các khối núi, bao gồm phần cao nguyên cao nhất trên trái đất.
Sự rộng lớn của quốc gia này và sự cằn cỗi của vùng nội địa phía tây kéo theo những vấn đề quan trọng trong chiến lược phòng thủ. Dù có nhiều bến cảng tốt dọc theo chiều dài bờ biển khoảng 18000 km nhưng định hướng truyền thống của đất nước không phải ra biển mà hướng về đất liền, để phát triển thành một quốc gia hùng mạnh với trung tâm ở Hoa Trung và Hoa Nam, vươn tới tận vùng đồng bằng bắc Hoàng Hà. Trung Quốc cũng có cao nguyên Tây Tạng về phía Nam. Cao nguyên Tây Tạng là một cao nguyên rộng lớn với cao độ cao. Về phía Bắc của cao nguyên Tây Tạng là các Sa mạc Gobi và Taklamakan, trải ra từ Cực Tây Bắc về phía Đông qua Mông Cổ.
Trung Quốc là quốc gia lớn thứ 4 thế giới về tổng diện tích (sau Nga, Canada và Hoa Kỳ)[1]. Số liệu về diện tích của Trung Quốc hơi khác nhau, tùy theo việc người ta lấy số liệu từ các biên giới mập mờ. Con số chính thức do Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đưa ra là 9,6 triệu km², khiến cho quốc gia này chỉ hơi nhỏ hơn một chút so với Hoa Kỳ. Trung Hoa Dân Quốc đóng ở Đài Loan đưa ra con số là 11 triệu km², nhưng số liệu này bao gồm cả Mông Cổ, một quốc gia có chủ quyền độc lập. Trung Quốc có đường viền khá giống với Hoa Kỳ và phần lớn có cùng vĩ độ của Hoa Kỳ. Tổng diện tích Trung Quốc ước tính là 9.596.960 km², trong đó diện tích đất là 9.326.410 km² và nước là 270.550 km².
Biên giới đất liền: tổng cộng: 22.143,34 km
Mông Cổ 4.673 km
Nga (đông bắc) 3.605 km, (tây bắc) 40 km
Ấn Độ 3.380 km
Myanma 2.185 km
Kazakhstan 1.533 km
Bắc Triều Tiên 1.416 km
Việt Nam 1.281 km
Nepal 1.236 km
Kyrgyzstan 858 km
Pakistan 523 km
Bhutan 470 km
Lào 423 km
Tajikistan 414 km
Afghanistan 76 km
Bờ biển: 14.500 km
Tuyên bố hàng hải:
Vùng tiếp giáp lãnh hải: 24 hải lý (44 km)
Thềm lục địa: 200 hải lý (370 km) hoặc tới rìa của mép lục địa
Lãnh hải: 12 hải lý (22 km)
Địa lý và khí hậu
Bài chính: Địa lí Trung Quốc.
Do lãnh thổ trải rộng nên Trung Quốc có phong cảnh tương đối đa dạng, phía tây có nhiều cao nguyên và núi non, trong khi phía đông đất đai bằng phẳng và thấp hơn. Do vậy, hầu hết các con sôngchính đều chảy từ tây sang đông, trong đó có Dương Tử, Hoàng Hà và Hắc Long Giang cũng như chảy từ phía tây về phía nam như Châu Giang, Mê Kông, và Brahmaputra), và tất cả các sông này đều đổ ra Thái Bình Dương, trừ Brahmaputra đổ ra Ấn Độ Dương.
Hầu hết các vùng đất trồng trọt được đều nằm dọc theo hai con sông chính là Dương Tử và Hoàng Hà, và đây cũng là trung tâm phát sinh các nền văn minh cổ đại rực rỡ của Trung Quốc.
Về phía đông, dọc theo bờ biển Hoàng Hải và Đông Hải là các đồng bằng phù sa rất đông dân; còn bờ biển của Biển Đông ("Nam Hải Trung Quốc") và miền nam Trung Quốc có nhiều đồi núi và dãy núithấp.
Về phía tây, miền bắc có đồng bằng phù sa lớn (bình nguyên Hoa Bắc), còn miền nam có cao nguyên đá vôi mênh mông bao phủ bởi các ngọn đồi với độ cao tương đối, trong đó dãy Himalaya có đỉnh cao nhất là ngọn Everest. Phía tây bắc cũng có các cao nguyên khá cao trong các vùng đất sa mạc khô cằn như Takla-Makan và sa mạc Gobi ngày càng mở rộng. Do hạn hán kéo dài và có thể là kỹ thuật canh tác kém nên các cơn bão cát đã ngày càng phổ biến vào mùa xuân ở Trung Quốc. Các trận bão cát thổi xuống tận phía nam Trung Quốc, Đài Loan, và có cả dấu vết ở Bờ Tây Hoa Kỳ.
Biên giới tây nam của Trung Quốc có nhiều núi cao và thung lũng sâu phân cách với các nước Myanma, Lào và Việt Nam.
Khí hậu của Trung Quốc cũng rất đa dạng. Miền bắc có khí hậu với mùa đông khắc nghiệt kiểu Bắc cực. Miền trung có khí hậu ôn đới hơn. Miền nam chủ yếu là khí hậu tiểu nhiệt đới.
Vào Đại Cổ Sinh đến đầu Kỷ Than Đá hình thành nên biển, trong khi vào Đại Trung Sinh và Kỷ Đệ Tam hình thành các cửa sông và nước ngọt khởi nguồn trên cạn. Các miệng núi lửa có ở đồng bằng Hoa Bắc. Ở bán đảo Liêu Đông và Sơn Đông, có các đồng bằng bazan.
Văn hóa
Điều kiện hình thành
Điều kiện tự nhiên
Lãnh thổ Trung Quốc thời cổ đại nhỏ hơn bây giờ nhiều. Địa hình Trung Quốc đa dạng, phía Tây có nhiều núi và cao nguyên,khí hậu khô hanh, phía đông có các bình nguyên châu thổ phì nhiêu, thuận lợi cho việc làm nông nghiệp.
Trung Quốc có hàng ngàn con sông lớn nhỏ, nhưng có hai con sông quan trọng nhất là sông Hoàng Hà và sông Trường Giang (hay sông Dương Tử). Hai con sông này đều chảy theo hướng tây-đông và hàng năm đem phù sa về bồi đắp cho những cánh đồng ở phía đông Trung Quốc.
[sửa]Dân tộc
Trung Quốc có nhiều dân tộc nhưng đông nhất là người Hoa-Hạ. Người Hoa ngày nay tự cho tổ tiên họ gổc sinh sống ở ven núi Hoa thuộc tỉnh Thiểm Tâyvà sông Hạ thuộc tỉnh Hồ Bắc ngày nay. (Dân núi Hoa sông Hạ).
Trung Quốc ngày nay có khoảng 100 dân tộc, và 5 dân tộc có dân số đông nhất là Hán, Mãn, Mông, Hồi, Tạng.
[sửa]Lịch sử
Con người đã sinh sống ở đất Trung Quốc cách đây hàng triệu năm. Dấu tích người vượn ở hang Chu Khẩu Điếm (gần Bắc Kinh) có niên đại cách đây hơn 500.000 năm. Cách ngày nay khoảng hơn 5000 năm, xã hội nguyên thuỷ ở Trung Quốc bước vào giai đoạn tan rã, xã hội có giai cấp, nhà nước ra đời.
Giai đoạn đầu, lịch sử Trung Quốc chưa được ghi chép chính xác mà chỉ được chuyển tải bằng truyền thuyết. Theo truyền thuyết, các vua đầu tiên của Trung Quốc là ở thời kì Tam Hoàng Ngũ Đế (Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông và Hoàng đế, Cao Dương đế, Cốc đế, Nghiêu đế, Thuấn đế). Theo các nhà nghiên cứu, thực ra đây là giai đoạn cuối cùng của thời kì công xã nguyên thuỷ.
[sửa]Thành tựu chủ yếu
[sửa]Chữ viết
Đời nhà Thương, người Trung Hoa đã có chữ Giáp cốt được viết trên mai rùa, xương thú, được gọi là Giáp cốt văn. Qua quá trình biến đổi, từ Giáp cốt văn hình thành nên Thạch cổ văn, Kim văn. Tới thời Tần, sau khi thống nhất Trung Quốc, chữ viết cũng được thống nhất trong khuôn hình vuông được gọi là chữ Tiểu triện.
[sửa]Văn học
Kinh Thi là tập thơ cổ nhất ở Trung Quốc do nhiều tác giả sáng tác thời Xuân-Thu, được Khổng tử sưu tập và chỉnh lí. Kinh Thi gồm có 3 phần: Phong, Nhã, Tụng.
Thơ Đường là thời kì đỉnh cao của nền thơ ca Trung Quốc. Trong hàng ngàn tác giả có ba nhà thơ lớn nổi bật là Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị.
Tới thời Minh-Thanh, tiểu thuyết lại rất phát triển với các tác phẩm tiêu biểu như: Tam quốc chí diễn nghĩa của La Quán Trung, Thuỷ hử của Thi Nại Am, Tây du kí của Ngô Thừa Ân, Nho lâm ngoại sửcủa Ngô Kính Tử, Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần...trong đó Hồng lâu mộng được đánh giá là tiểu thuyết có giá trị nhất.
[sửa]Sử học
Người Trung Hoa thời cổ rất có ý thức về biên soạn sử. Nhiều nước thời Xuân-Thu đã đặt các quan chép sử. Trên cơ sở quyển sử nước Lỗ, Khổng Tử đã biên soạn ra sách Xuân Thu.
Tới thời Hán, Tư Mã Thiên là một nhà viết sử lớn đã để lại Phẩm Sử kí, chép lại lịch sử Trung Quốc gần 3000 năm, từ thời Hoàng Đế đến thời Hán Vũ Đế.
Tới thời Đông Hán, có các tác phẩm Hán thư của Ban Cố, Tam quốc chí của Trần Thọ, Hậu Hán thư của Phạm Diệp .
Tới thời Minh-Thanh, các bộ sử như Minh sử, Tứ khố toàn thư là những di sản văn hoá đồ sộ của Trung Quốc.
[sửa]Khoa học tự nhiên và kĩ thuật
[sửa]Toán học
Người Trung Hoa đã sử dụng hệ đếm thập phân từ rất sớm. Thời Tây Hán đã xuất hiện cuốn Chu bễ toán kinh, trong sách đã có nói đến quan niệm về phân số, về quan hệ giữa 3 cạnh trong một tam giác vuông.
Thời Đông Hán, đã có cuốn Cửu chương toán thuật, trong sách này đã nói đến khai căn bậc 2, căn bậc 3, phương trình bậc1, đã có cả khái niệm số âm, số dương.
Thời Nam-Bắc triều có một nhà toán học nổi tiếng là Tổ Xung Chi, ông đã tìm ra số Pi xấp xỉ 3,14159265, đây là một con số cực kì chính xác so với thế giới hồi đó.
[sửa]Thiên văn học
Từ đời nhà Thương, người Trung Hoa đã vẽ được bản đồ sao có tới 800 vì sao. Họ đã xác định được chu kì chuyển động gần đúng của 120 vì sao. Từ đó họ đặt ra lịch Can-Chi. Thế kỉ IV TCN, Can Đức đã ghi chép về hiện tượng vết đen trên Mặt trời. Thế kỉ II, Trương Hành đã chế ra dụng cụ để dự báo động đất.
Năm 1230, Quách Thủ Kính (đời Nguyên) đã soạn ra cuốn Thụ thời lịch, xác định một năm có 365,2425 ngày. Đây là một con số rất chính xác so với các nhà thiên văn Châu Âu thế kỉ XIII.
[sửa]Y, dược học
Thời Chiến Quốc đã có sách Hoàng đế nội kinh được coi là bộ sách kinh điển của y học cổ truyền Trung Hoa. Thời nhà Minh có cuốn Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân. Cuốn sách này được dịch ra chữ Latin và được Darwin coi đây là bộ bách khoa về sinh vật của người Trung Quốc thời đó. Đặc biệt là khoa châm cứu là một thành tựu độc đáo của y học Trung Quốc.
[sửa]Kĩ thuật
Có 4 phát minh quan trọng về mặt kĩ thuật mà người Trung Hoa đã đóng góp cho nhân loại, đó là giấy, thuốc súng, la bàn và nghề in. Giấy được chế ra vào khoảng năm 105 do Thái Luân. Nghề in bằng những chữ rời đã được Tất Thăng sáng tạo vào đời Tuỳ. Đồ sứ cũng có nguồn gốc từ Trung Hoa. Từ thế kỉ VI, họ đã chế ra diêm quẹt để tạo ra lửa cho tiện dụng.
[sửa]Hội hoạ, điêu khắc, kiến trúc
[sửa]Hội hoạ
Hội hoạ Trung Quốc có lịch sử 5000 - 6000 năm với các loại hình: bạch hoạ, bản hoạ, bích hoạ. Đặc biệt là nghệ thuật vẽ tranh thuỷ mạc, có ảnh hưởng nhiều tới các nước ở Châu Á. Cuốn Lục pháp luận của Tạ Hách đã tổng kết những kinh nghiệm hội hoạ từ đời Hán đến đời Tuỳ.
[sửa]Điêu khắc
Trung Quốc cũng phân thành các ngành riêng như: Ngọc điêu, thạch điêu, mộc điêu. Những tác phẩm nổi tiếng như cặp tượng Tần ngẫu đời Tần, tượng Lạc sơn đại Phật đời Tây Hán ( pho tượng cao nhất thế giới ), tượng Phật nghìn mắt nghìn tay.
[sửa]Kiến trúc
Công trình nổi tiếng thế giới như: Vạn Lý Trường Thành (dài 6700 km), Thành Tràng An, Cố cung, Tử cấm thành ở Bắc Kinh.
[sửa]Triết học, tư tưởng
Thuyết Âm dương, Bát quái, Ngũ hành, Âm dương gia: -Âm dương, bát quái, ngũ hành, là những thuyết mà người Trung Quốc đã nêu ra từ thời cổ đại để giải thích thế giới. Họ cho rằng trong vũ trụ luôn tồn tại hai loại khí không nhìn thấy được xâm nhập vào trong mọi vật là âm và dương ( lưỡng nghi).
-Bát quái là 8 yếu tố tạo thành thế giới: Càn (trời), Khôn (đất), Chấn (sấm), Tốn (gió), Khảm (nước), Ly (lửa), Cấn (núi), Đoài (hồ). Trong Bát quái, hai quẻ Càn, Khôn là quan trọng nhất.
-Ngũ hành là: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Đó là 5 nguyên tố tạo thành vạn vật. Các vật khác nhau là do sự pha trộn, tỉ lệ khác nhau do tạo hoá sinh ra. Sau này, những người theo thuyết Âm dương gia đã kết hợp thuyết Âm dương với Ngũ hành rồi vận dụng nó để giả thích các biến động của lịch sử xã hội.
[sửa]Về tư tưởng
Thời Xuân Thu - Chiến Quốc, ở Trung Quốc đã xuất hiện rất nhiều những nhà tư tưởng đưa ra những lí thuyết để tổ chức xã hội và giải thích các vấn đề của cuộc sống (Bách gia tranh minh).
[sửa]Nho gia
Đại biểu cho phái Nho gia là Khổng Tử. Nho gia đề cao chữ nhân, chủ trương lễ trị, phản đối pháp trị. Nho gia đề cao Tam cương, Ngũ thường, cùng với tư tưởng Chính danh định phận và đề cao tư tưởng Thiên mệnh. Giá trị quan trọng nhất trong tư tưởng của Khổng Tử là về giáo dục. Ông chủ trương dạy học cho tất cả mọi người.
Tới thời Hán Vũ Đế (140-87 TCN), chấp nhận đề nghị của Đổng Trọng Thư, Hán Vũ Đế đã ra lệnh “bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật”, Nho gia đã được đề cao một cách tuyệt đối và nâng lên thành Nho giáo.
[sửa]Đạo gia
Đạo gia là Lão Tử và Trang Tử . Hai ông đã thể hiện tư tưởng của mình qua hai tác phẩm Đạo đức kinh và Nam Hoa kinh. Theo Lão Tử, “Đạo” là cơ sở đầu tiên của vũ trụ, có trước cả trời đất, nằm trong trời đất. Qui luật biến hoá tự thân của mỗi sự vật ông gọi là “Đức”. Lão Tử cho rằng mọi vật sinh thành, phát triển và suy vong đều có mối liên hệ với nhau.
Tới thời Trang Tử, tư tưởng của phái Đạo gia mang nặng tính buông xuôi, xa lánh cuộc đời. Họ cho rằng mọi hoạt động của con người đều không thể cưỡng lại “đạo trời”, từ đó sinh tư tưởng an phận, lánh đời.
Phái Đạo giáo sinh ra sau này khác hẳn Đạo gia, mặc dù có phái trong Đạo giáo tôn Lão Tử làm “Thái thượng lão quân”. Hạt nhân cơ bản của Đạo giáo là tư tưởng thần tiên. Đạo giáo cho rằng sống là một việc sung sướng nên họ trọng sinh, lạc sinh.
[sửa]Pháp gia
Ngược hẳn với phái Nho gia, phái Pháp gia chủ trương “pháp trị”, coi nhẹ “lễ trị”. Tiêu biểu cho phái Pháp gia là Hàn Phi Tử, một kẻ sĩ thời Tần Thuỷ Hoàng.
Theo Hàn Phi Tử, trị nước chỉ cần pháp luật nghiêm minh, rõ ràng, dễ hiểu với mọi người, không cần lễ nghĩa. Ông cho rằng trị nước cần nhất 3 điều:
Pháp: đó là phải định ra được pháp luật nghiêm minh, rõ ràng, dễ hiểu, công bằng với mọi người, không phân biệt đó là quí tộc hay dân đen.
Thế: Muốn thực thi pháp luật thì các bậc quân vương phải nắm vững quyền thế, không chia sẻ cho kẻ khác.
Thuật: đó là thuật dùng người. Thuật có 3 mặt: bổ nhiệm, khảo hạch và thưởng phạt. Thuật bổ nhiệm là khi chọn quan lại chỉ căn cứ vào tài năng và lòng trung thành, không cần dòng dõi, đức hạnh. Khảo hạch là phải kiểm tra công việc thường xuyên. Thưởng phạt thì chủ trương “ai có công thì thưởng, ai có tội thì trừng phạt thật nặng, bất kể là quí tộc hay dân đen”, trọng thưởng, trọng phạt.
[sửa]Mặc gia
Người đề xướng là Mặc Tử (Khoảng giữa thế kỉ V TCN đến giữa thế kỉ IV TCN ). Hạt nhân tư tưởng triết học của Mặc gia là nhân và nghĩa. Mặc Tử còn là người chủ trương “ thủ thực hư danh” (lấy thực đặt tên). Tư tưởng của phái Mặc gia đầy thiện chí nhưng cũng không ít ảo tưởng. Từ đời Tần, Hán trở về sau, ảnh hưởng của phái Mặc gia hầu như không còn đáng kể
Tôn giáo
Xem bài chính: Tôn giáo Trung Quốc.
Tại Trung Quốc, kể từ năm 1949 dưới sự điều hành của chính phủ Cộng Sản luôn muốn khuếch trương chủ nghĩa vô thần nên[cần dẫn nguồn] dân số của các tôn giáo không xác dịnh rõ ràng. Nhưng trên thực tế từ nhiều nguồn nghiên cứu về văn hóa và tôn giáo Trung Hoa[cần dẫn nguồn] thì đại đa số người dân vẫn còn giữ phong tục thờ cúng tổ tiên do ảnh hưởng của Khổng Giáo, cũng như kết hợp với Phật Giáo và Đạo Giáo trở thành "Tam giáo đồng nguyên" (hoặc "Tôn giáo cổ truyền Trung Hoa" mà Phật Giáo Đại Thừa giữ vai trò chính), số còn lại theo những tôn giáo chính sau với tỉ lệ chỉ mang tính ước lượng có thể không chính xác:
Lão giáo: xuất hiện dưới nhiều trạng thái khác biệt và khó phân ranh rõ ràng với những tôn giáo khác nên người ta không nắm rõ số người theo. Theo các tài liệu gần đây nhất thì có khoảng 400 triệu người (30% tổng dân số) theo Đạo Giáo.
Phật giáo: khoảng 8% (quy y Tam Bảo), bắt đầu du nhập vào Trung Quốc khoảng từ thế kỷ thứ nhất Công nguyên. Số người theo chủ yếu là Đại thừa, còn Tiểu thừa thì không đáng kể. Ngoài ra, còn có những người theo Phật giáo Tây Tạng, chủ yếu tại Tây Tạng và Nội Mông Cổ. Con số thực của số lượng Phật tử trên danh nghĩa có thể đạt trên 660 triệu đến 1 tỷ người (50% - 80%). Nhờ vậy mà Trung Quốc đương nhiên trở thành quốc gia Phật Giáo đông dân nhất, theo sau là Nhật Bản và Việt Nam, chiếm khoảng 2/3 trong tổng số 1,5 tỷ người theo Phật Giáo trên khắp Thế Giới. Lưu ý là đa số người gốc Hán thường tôn thờ Phật Giáo cùng chung với các tôn giáo truyền thống Trung Hoa khác (như Đạo Giáo hay Khổng Giáo).
Cơ Đốc giáo: khoảng 1 đến 4% tùy nguồn, một số nhánh của đạo này được truyền rải rác vào Trung Quốc thành nhiều đợt bắt đầu từ thế kỷ thứ 8. Ngoài ra còn có những người Trung Quốc gốc Nga ở phía bắc và tây bắc Trung Quốc theo Chính Thống giáo với số lượng tương đối nhỏ.
Nho giáo: không rõ số người theo, đây là tôn giáo xuất phát từ Khổng Tử mà các triều đại Trung Quốc cố gắng truyền bá theo chiều hướng có lợi cho chính quyền, tuy nhiên theo nhiều học giả thì bản chất của nó không phải như vậy.
Hồi giáo: 1% đến 2%, có ở Tân Cương và các vùng có người dân tộc thiểu số theo Hồi Giáo sinh sống rải rác. Đạo này phát triển mạnh vào thời nhà Nguyên (1271-1368).
Tôn giáo cổ truyền Trung Quốc: tôn giáo đa thần của phần lớn dân Trung Quốc trước năm 1949, là kiểu tín ngưỡng pha trộn giữa một số trường phái Đạo giáo và Phật giáo và các tín ngưỡng khác.
Ngoài ra còn có Pháp Luân Công là một phương pháp tập luyện tinh thần rất phổ biến tại Trung Quốc trong thập niên 90 tuy nhiên đã bị ĐCSTQ đàn áp vào năm 1999. Theo thống kê của chính phủ có khoảng 70-100 triệu người.
Chính trị : Các tư tưởng chỉ đạo
Mao Trạch Đông: Tư tưởng Mao Trạch Đông
Đặng Tiểu Bình: Lý luận Đặng Tiểu Bình
Giang Trạch Dân: Thuyết Ba Đại Diện
Hồ Cẩm Đào: Quan niệm Xã hội hài hòa XHCN
Bí mật chính trị Trung Quốc
________________________________________
Vài năm trở lại đây, “lý luận dân chủ trong Đảng” trở nên thịnh hành. Từ học giả mạnh dạn đưa ra, đến cán bộ nhà nước mạnh dạn sử dụng, dường như không nơi nào không thể hiện dũng khí của lý luận mới từ học giả và cán bộ Trung Quốc. Nghe nói dân chủ trong dảng phù hợp với tình hình Trung Quốc, vừa có dân chủ, lại bảo đảm địa vị chấp chính lâu dài của Đảng cộng sản Trung Quốc. À ! Trên thế giới này lại có lí luận tốt đến như thế, cuối cùng đã được người dân Trung Quốc vĩ đại phát hiện ra. Chúng ta đi theo con đường khác với phương Tây, giương cao dân chủ trong Đảng, lôi kéo dân chủ trong nhân dân, hai sự dân chủ này kết hợp lại, thật là rất tốt, rất mạnh mẽ to lớn. “Dân chủ trong Đảng” có nghĩa như thế nào, người dân không thể nào mà biết được, nếu như chỉ chế độ tập trung dân chủ, thì cũng chính là nguyên tắc mà Đảng của chúng ta vẫn kiên định, chỉ là thay đổi tên mới mà thôi; nếu như là chỉ lôi kéo hướng đến một có chế tuyển cử mang tính cạnh tranh, thì rất có thể từ trong nội bộ triệt tiêu nguyên tắc của chế độ cũ, thậm chí có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng là Đảng bị diệt vong. Ban đầu dùng danh từ mới để lừa phỉnh người ngoại quốc, kết quả người ngoại quốc lừa không xong, cuối cùng lại để chính mình bị mắc lừa, vậy thì chuyện tồi tệ lớn xảy xa rồi...
Liên quan đến lí luận về dân chủ trong Đảng, một số học giả dùng những tác phẩm lớn để nói, vì dân chủ tạo nên dư luận, trong tình hình chính chị khống chế nghiêm ngặt như ngày nay, có người có thể đi khắp nơi rao giảng “ dân chủ là một thứ tốt ”, thật là một lí luận sai lầm. Một mặt, mọi người nói dân chủ, mặt khác lại giới hạn tự do tư tưởng và ngôn luận ở khắp nơi, thậm chí còn chuẩn bị sẵn hai kiểu cảnh sát mật và công khai, thật khiến người ta cảm thấy khó nghĩ. Câu nói “Dân chủ là một thứ tốt”, khiến người ra nghĩ đến những câu nói vẫn thịnh hành ở thời kì trước đổi mới: Chủ nghĩa xã hội tốt! Công xã nhân dân tốt! Đường lối chung tốt! Đại nhảy vọt tốt! Bây giờ nói “Dân chủ là một thứ tốt”, so với nói thẳng “Dân chủ tốt” đã có tiến bộ, tiến bộ ở chỗ thêm được 3 từ “là một thứ”. Chủ nghĩa xã hội tốt! Công xã nhân dân tốt! Dân chủ tốt! Là tốt cái gì? Điều này không cần quan tâm, dù sao vẫn là tốt, thì sẽ tốt! Chính trong kiểu khẩu hiệu trống rỗng, mờ ảo, ngang ngược vô lý này, sự phát triển của chính trị Trung Quốc vẫn giẫm chân tại chỗ, thậm chí nhầm bước vào đường sai.
Cái nền của chính trị dân chủ hiện đại phương Tây là công tác quản lý nhà nước, liên quan đến chính trị công khai, điều này đặc biệt thể hiện ở sự phát triển của các hội nghị chính trị của phương Tây từ cận đại trở lại đây. Như Carl Schmitt đã nói, thực chất của hội nghị chính trị hiện tại không phải dân chủ, mà là công khai. Ai có thể tin tưởng rằng những người tham gia hội nghị thực sự đại biểu cho nhân dân, có thể biện luận ra chân lý! Nhưng hội nghị chính trị không quan trọng ở chỗ thảo luận ra chân lý, mà quan trọng ở chỗ mang việc của quần chúng ra để mọi người cùng nghị luận, ngày trước công việc chính trị bí mật do Hoàng gia làm hết, hiện tại cần phải cho các tầng lớp khác nhau cùng nghị luận. Vấn đề căn bản của lý luận dân chủ trong Đảng chính là dân chủ trong Đảng vẫn là bí mật chính trị của Đảng cộng sản Trung Quốc, trong tác phong và cách thức làm việc dân chủ cũng được, không dân chủ cũng xong, quan trọng ở chỗ hoạt động chính trị vẫn đều là nội bộ Đảng tiến hành, người dân thường căn bản không thể nào biết đến, điều này đã khiến khoảng cách với dân chủ chính trị hiện đại kéo xa thêm. Trong thể chế chính trị xã hội Trung Quốc, xử lý các vấn đề chính trị lớn, nghị quyết về các chính cách công cộng, sự thay đổi đội ngũ cán bộ lãnh đạo, phàm thuộc những việc tương tự như vậy, ở Trung Quốc đều khó lường trước nông sâu, mang đậm màu sắc thần bí, công chúng bị tước đi quyền căn bản về sự nhận biết, quyền bình luận. Bí mật chính trị là một đặc điểm lớn của chính trị Trung Quốc, trong bí mật chính trị, đấu tranh quyền lực, mạng lưới lợi ích, tranh cướp giữa các phe phái, đều là những việc hậu thái, trong quá trình đó cũng chỉ là những qui tắc bí mật nằm sau ánh sáng mặt trời. Bí mật chính trị vì các cá nhân, phe phái lợi dụng quyền lực chung của nhà nước để mưu cầu tư lợi, mở ra cánh cửa đen tối. Quan lại phủ bại là một biểu hiện rõ ràng nhất từ kết cục thảm hại của bí mật chính trị. Đồng chí Hồ Cẩm Đào trong báo cacó chính trị đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 17 nhấn mạnh “để quyền lực vận hành dưới ánh sáng chân lý”, tôi nhận thấy quan điểm này so với cách nói “dân chủ trong Đảng” còn cao minh hơn nhiều.
Thể chế toàn năng lấy chế độ đơn vị làm đơn nguyên, hợp thành kết cấu chính trị xã hội mang mô hình tổ ong. Vấn đề của đại thể chế ở chỗ một đơn nguyên nhỏ - trong đơn vị không một đơn nguyên nào không có những biểu trưng cụ thể và tinh xảo. Hiểu được chính trị trong một đơn vị cũng chính là hiểu được cả chính trị Trung Quốc; ngược lại cũng vậy. Bí mật chính trị trong các đơn vị cũng mang một logíc giống nhau. Năm 2007có “Sự kiện Trương Minh” khiến người ta chú ý, đối với “Sự kiện Trương Minh” trong rất nhiều bình luận xuất hiện một cách nói quan trọng: đưa sự việc của đơn vị cơ quan mang lên mạng nói, giáo sư Trương Minh đã mở ra một tiền lệ mới. Nói một cách nghiêm túc, câu nói này là thuật lại một giá trị trung lập. Nhưng đằng sau logíc này là ở Trung Quốc, việc của cơ quan đơn vị nghe nói là bí mật chính trị, nhưng hiện tại bị mang ra trước ánh sáng mặt trời, vì thế đã vi phạm quy định. Người viết gặp không ít học giả đi trước và lãnh đạo, đều nhắc đi nhắc lại cảnh cáo với ý chân thành sâu sắc: Chớ có tuỳ tiện viết nhật ký mạng, đặc biệt đừng có viết những việc cụ thể, đừng có đưa những việc của đơn vị cơ quan lên mạng. Những suy nghĩ sâu sắc của họ, tôi rất thông cảm, dưới một thể chế dị dạng cần phải học được việc sáng suốt giữ mình, đây là châm ngôn. Nhưng nếu như trong thế kỉ 21 lại muốn kẹp cái đuôi như thế mà làm người, quả thực quá không “đuổi kịp thời đại” rồi.
Kì thực, cơ quan đơn vị chính là hình ảnh thu nhỏ của một quốc gia, quốc gia chính là hình ảnh lớn của đơn vị cơ quan. Nói đơn vị là nói quốc gia, nói quốc gia cũng chính là nói đơn vị. Huống hồ thời đại công nghệ thông tin, viết nhật ký mạng cũng là một phương thức sống. Bạn ngấm ngầm làm, tại sao tôi lại không thể! Xung quanh người viết xảy ra rất nhiều sự việc, đều mang đặc trưng của bí mật chính trị. Ví dụ, gọi sinh viên đi tham gia một hoạt động tập thể, nhưng không được thông báo sẽ làm những gì, kết cục đi rồi mới biết được bổ sung làm diễn viên quần chúng, nghe khách nước ngoài diễn thuyết, làm chân trông chừng khách, đi cổ động, đây đều là bí mật chính trị; không lâu trước Học viện có thông báo tuyển người viết rằng: Chỉ có thể trong thời gian ngắn đã quy định đến văn phòng đọc các văn kiện liên quan, không được in, sao chép, không được phép lên mạng; nói là “thông báo công khai” chính là đóng cửa văn phòng lại rồi thông báo, thật là đáng buồn cười. Ngoài ra, rất nhiều công việc chung liên quan đến người dân, đều được quyết định trong tình trạng dân chưa biết sự tình. Mấy ngày không gặp, có người thăng chức cao, có người rủi ro, có người được nhận làm việc, có người sắp chuyển đi.
Tất cả đều đang xảy ra, nhưng dường như không liên quan tới bạn. Còn nữa, không hội họp, hay hội họp không gọi một ai đó thì có gọi bạn đi bạn cũng không được phát biểu, chí ít cũng không hoan nghênh bạn phát biểu, phàm thuộc những việc như thế, đều là biểu hiện của bí mật chính trị Trung Quốc. Bí mật chính trị bí mật ở chỗ không lộ mặt trên chính trường. Im hơi lặng tiếng phát đại tài, luôn có những người vơ vét được biết bao lợi ích từ trong bí mật chính trị. Bí mật chính trị khiến công quyền dùng cho việc tư, việc xằng xiên bậy bạ lại trở thành có thể.
Bí mật chính trị không nhất định là xấu, nhưng thông thường rất ít khi tốt, bí mật chính trị về bản chất là thuật chính trị phản chính trị, căn bản không phải chính trị. Bí mật chính trị là chất độc từ chính trị quan liêu truyền thống Trung Quốc còn rơi rớt lại, cũng là đặc trưng của chính trị toàn năng. Sự phát triển của chính trị Trung Quốc, đầu tiên đừng xa xỉ bàn tới cái gì dân chủ. Xoá bỏ bí mật chính trị, để quyền lực vận hành dưới ánh sáng chân lý, là bước đi đầu tiên cần làm!
Thâm nhập thị trường Trung Quốc, cần bài bản
Cách tiếp cận của các doanh nghiệp Việt với thị trường Trung Quốc trước giờ thường bị đánh giá là thiếu bài bản, nhỏ lẻ, theo ông Võ Trí Thành, Viện phó Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương.
Hôm 1/1/2010, Hiệp định thương mại tự do giữa ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) đã chính thức được thực thi đầy đủ trên cả ba lĩnh vực hàng hóa, dịch vụ và đầu tư.
Với 13 triệu km2, dân số khoảng 2 tỷ người và GDP lên tới gần 6.000 tỷ USD, ACFTA là khu vực thương mại lớn nhất thế giới, chỉ sau Liên minh châu Âu (EU) và Khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA).
Theo lộ trình, giai đoạn đầu, Trung Quốc và 6 nước thành viên của ASEAN gồm Indonesia, Philippines, Thái Lan, Malaysia, Singapore và Brunei sẽ chính thức dỡ bỏ hàng rào thuế quan cho phép tự do buôn bán đối với hơn 90% các loại hàng hóa và dịch vụ.
Các nước thành viên còn lại là Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam sẽ có thêm thời hạn khoảng 5 năm nữa để thực hiện thỏa thuận này. Dự kiến, đến năm 2015, hiệp định sẽ có giá trị trong toàn khu vực.
Quan hệ thương mại Trung Quốc - ASEAN đã phát triển mạnh trong thời gian qua. Kim ngạch thương mại hai chiều từ 78,2 tỷ USD trong năm 2003 đã tăng tới 231,1 tỷ USD trong năm 2008, với mức tăng trưởng hàng năm là 24,2%.
Riêng với Việt Nam, phát biểu tại diễn đàn ACFTA ngày 7/1 tại Nam Ninh (Trung Quốc), ông Nguyễn Cẩm Tú, Thứ trưởng Bộ Công Thương cho biết, "từ năm 2004, Trung Quốc đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam".
Năm 2008, kim ngạch thương mại Việt-Trung đạt 20,188 tỷ USD, tăng 27,3% so với 2007 và hơn 100 lần so với năm 2000. Tuy nhiên, trong đó, xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 4,536 tỷ USD, còn nhập khẩu lên tới 15,652 tỷ USD.
Trước đó, phát biểu bên lề bàn tròn giữa Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng với lãnh đạo doanh nghiệp Việt-Trung cũng tại Nam Ninh hôm 20/10/2009, ông Nguyễn Thành Biên, Thứ trưởng Bộ Công Thương, từng thừa nhận, “trong quan hệ thương mại Việt Nam và Trung Quốc có hiện tượng mất cân đối cán cân thương mại, Việt Nam đang nhập siêu từ Trung Quốc”.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Thành Biên, việc tận dụng các cơ hội để xúc tiến thương mại tại Trung Quốc là một trong những hướng đi đẩy mạnh xuất khẩu hàng Việt Nam sang thị trường này, theo các con đường chính ngạch, cũng như đẩy mạnh quan hệ buôn bán biên mậu giữa các tỉnh biên giới Việt Nam với Trung Quốc, nhất là hai tỉnh Quảng Tây, Vân Nam.
Trong năm 2008, xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc chiếm khoảng 7,2% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, nhưng chỉ chiếm chưa đầy 0,4% tổng kim ngạch nhập khẩu của Trung Quốc.
Tuy nhiên, để đẩy mạnh xuất khẩu hàng Việt sang thị trường Trung Quốc không dễ. Ông Võ Trí Thành, Viện phó Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, cho rằng, các doanh nghiệp Việt phải nỗ lực tìm hiểu cách thâm nhập thị trường này.
Thực hiện ACFTA mở ra cơ hội tiếp cận thị trường tốt hơn, cải thiện thuận lợi hóa thương mại... Tuy nhiên, từ trước tới nay, các hoạt động tiếp cận thị trường Trung Quốc của doanh nghiệp Việt Nam thường rất nhỏ lẻ, thiếu bài bản.
Cùng chung quan điểm này, Thứ trưởng Nguyễn Thành Biên cho rằng, “để tận dụng cơ hội đem lại từ ACFTA mang lại, đòi hỏi rất nhiều nỗ lực từ phía doanh nghiệp, trong việc nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp mình, cũng như hàng hóa mà doanh nghiệp cung cấp cho Trung Quốc”.
Theo ông Biên, Trung Quốc là một trong những thị trường trọng điểm mà Bộ Công Thương đã giao cho Cục Xúc tiến thương mại, Vụ châu Á – Thái Bình Dương, Vụ hợp tác quốc tế, Vụ Xuất nhập khẩu tìm mọi biện pháp để hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm đơn hàng, tìm kiếm hợp đồng, tìm kiếm bạn hàng để làm ăn lâu dài.
Trong cuộc hội thảo “Đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc” hôm 20/11/2009, các chuyên gia kinh tế trong nước đã lưu ý, doanh nghiệp Việt phải xây dựng, quảng bá và đăng ký thương hiệu; có chiến lược thâm nhập và phát triển thị trường.
Doanh nghiệp Việt Nam cũng cần xây dựng quan hệ với bạn hàng Trung Quốc thông qua việc tận dụng các hội chợ quốc tế, chuyên ngành. Thông qua các hiệp hội ngành hàng của Trung Quốc, xây dựng hệ thống đại lý bán lẻ, mở cửa hàng giới thiệu, bán sản phẩm, liên doanh với doanh nghiệp Trung Quốc sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm tại Trung Quốc...
Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, thị trường Trung Quốc khá tiềm năng đối với nhiều mặt hàng nông sản của Việt Nam như cao su, tiêu, quế, hồi, đồ uống...Thị trường 1,9 tỷ dân này cũng cần nhập gạo chất lượng cao, hoa tươi, bàn ghế gỗ giả cổ, thủy hải sản, thực phẩm chế biến và cả giày dép bằng cao su.
Dự kiến, kim ngạch mậu dịch giữa hai nước trong 2009 đạt khoảng 21,5 tỷ USD, tăng 6,9%, trong năm 2010 sẽ nâng lên mức 25 tỷ USD.
Hà Nội phát triển VLXD không nung: Lực cản và giải pháp
Trong xu thế toàn ngành sản xuất vật liệu xây đang hướng đến các mục tiêu phát triển công nghệ gạch không nung với rất nhiều ưu điểm thì đến cuối năm 2009, trên địa bàn Hà Nội vẫn tồn tại khoảng 1.250 lò gạch thủ công các loại, chưa kể một số lò hoạt động theo mùa vụ với tổng sản lượng khoảng 800 triệu viên/năm. Cùng với đó tình trạng tận dụng đất đào ao, hạ cốt ruộng vẫn tiếp tục tồn tại bất chấp nỗ lực của chính quyền địa phương trong việc thực hiện QĐ15 của Bộ Xây dựng về việc xóa bỏ sản xuất gạch ngói bằng phương pháp thủ công lạc hậu, tiến tới sản xuất gạch không nung bằng công nghệ tiên tiến..
Cả gạch tuynel và VLXKN đều chưa đáp ứng đủ nhu cầu xây dựng
Như vậy, đây thực sự là một thách thức đặt ra với công tác quản lý nhà nước trên địa bàn thành phố, bởi chính Quy hoạch phát triển công nghiệp VLXD Hà Nội đến năm 2020 và các văn bản quy định về quản lý đầu tư sản xuất gạch ngói nung của địa phương đều chỉ rõ: Dứt khoát xóa bỏ các lò gạch ngói sản xuất thủ công, lạc hậu; ưu tiên phát triển công nghệ lò tuynel với điều kiện cải tiến công nghệ theo hướng tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng và bảo đảm tiêu chuẩn về môi trường. TP khuyến khích và chỉ đạo các tổ chức cá nhân hiện đang sản xuất gạch tuynel và gạch thủ công đầu tư chuyển đổi sang sản xuất vật liệu xây không nung (VLXKN)…
Để tiến tới thực hiện các mục tiêu trên, bên cạnh việc phối hợp với các sở ban ngành kiên quyết không cho phép đầu tư lò gạch ngói thủ công mới, Sở Xây dựng Hà Nội xúc tiến việc lập đoàn kiểm tra liên ngành kiểm tra việc sản xuất gạch, ngói tại các địa phương trên địa bàn. Qua đó, những nguyên nhân cả chủ quan và khách quan khiến tình trạng sản xuất gạch thủ công vẫn có “đất diễn” đã được chỉ ra: Tốc độ đô thị hóa cao nên nhu cầu vật liệu xây, ngói lợp rất lớn; trong khi đó sản lượng gạch tuynel mới chỉ đáp ứng được hơn một nửa nhu cầu xây dựng và một số nhà máy sản xuất gạch tuynel lại vừa trải qua tiến trình chuyển đổi sản xuất như nhà máy gạch Đại Thanh, Hữu Hưng, Tùng Phương… Nguồn cung gạch ngói từ các tỉnh lân cận như Hà Nam, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên cũng bị hạn chế do cước phí giao thông tăng cao đã đẩy giá đến mức thị trường khó chấp nhận.
Việc coi VLXKN là “cứu cánh” đáp ứng nhu cầu vật liệu xây cũng chưa có nhiều hy vọng, bởi toàn TP hiện mới có 7 cơ sở sản xuất gạch block xi măng - cốt liệu với công suất 62 triệu viên, 4 cơ sở sản xuất công nghệ bê tông bọt nhẹ và bê tông khí nhưng sản lượng cũng rất thấp - chỉ đạt 110 triệu viên QTC, 1 cơ sở sản xuất gạch block puzolan công suất 2 triệu viên/năm; các loại vật liệu không nung khác như ngói không nung, tấm xây dựng cũng trong tình trạng sản lượng không cao.
Các cơ sở sản xuất nhỏ, các hộ tư nhân lại có vẻ… thích ứng và đáp ứng được nhu cầu xây dựng cho nhân dân tại khu vực do có tới 40 cơ sở nằm rải rác trong các địa bàn dân cư, công suất 1 dây chuyền vào khoảng 1 - 3 triệu viên/năm, lại tận dụng được nguyên liệu tại chỗ và lao động nông nhàn nên giá thành rẻ. Tuy nhiên đây chủ yếu là những sản phẩm cấp thấp, chủ yếu sử dụng vào việc xây dựng tường rào, chuồng trại và nhà thấp tầng là chính nên không thể coi đây là nguồn “cứu cánh” về vật liệu xây trong tương lai.
Chính vì những nguyên nhân này, có thể mạnh dạn kết luận rằng, nếu thiếu nguồn gạch thủ công thì việc đáp ứng nhu cầu vật liệu xây trên địa bàn Hà Nội còn khó khăn hơn nữa. Đây là một sự thật mà các nhà quản lý cần nhìn nhận thật thẳng thắn. Hy vọng đó cũng là động lực để cấp quản lý đưa ra những quyết định mang tính đột phá mạnh mẽ hơn nữa trong việc cùng lúc bảo đảm thực hiện 2 mục tiêu: Xóa bỏ lò gạch thủ công, khuyến khích phát triển VLXKN.
Định hướng và những giải pháp đột phá về VLXKN
Như vậy, để đáp ứng nhu cầu VLXD cung cấp cho các công trình xây dựng trên địa bàn, trước mắt Hà Nội vẫn phải duy trì sản xuất gạch ngói đất sét nung truyền thống, vừa phát triển VLXKN theo những định hướng chiến lược mạnh bạo và quyết liệt hơn. Được biết lãnh đạo Sở Xây dựng đã chỉ đạo Viện Khoa học công nghệ và Kinh tế Xây dựng Hà Nội tập trung thực hiện các dự án, đề tài khoa học có tính thực tiễn như: xây dựng quy trình công nghệ dùng đất đồi Sóc Sơn thay thế sử dụng đất canh tác để sản xuất gạch; Nghiên cứu công nghệ sản xuất bê tông bọt ứng dụng cho việc xây dựng nhà cao tầng tại các KĐT mới Hà Nội; nghiên cứu các giải pháp vật liệu kết cấu thi công tường nhẹ trong các chung cư xây mới mà kết quả của nó cũng là tiền đề tạo điều kiện đẩy mạnh việc phát triển sản xuất và sử dụng VLXKN trên địa bàn Thủ đô.
Dự kiến về chủng loại VLXKN , tỷ lệ gạch block xi măng - cốt liệu vào khoảng 70%, gạch block nhẹ, bê tông nhẹ khoảng 25%, các loại gạch khác như đá ong, đá chẻ, gạch đất puzolan, gạch từ đất đồi và phế thải, gạch silicat chiếm khoảng 5% tổng số sản lượng VLXKN. Về quy mô đầu tư, dự kiến khuyến khích các dây chuyền công nghệ tiên tiến có công suất 7 - 40 triệu viên/năm, trong giai đoạn tiếp theo sẽ mở rộng căn cứ theo nhu cầu thị trường. Tuy nhiên các cấp huyện cũng cần đầu tư từ 1 - 2 cơ sở sản xuất gạch không nung công suất nhỏ (1 - 2 triệu viên/năm) với công nghệ thiết bị do các DN cơ khí trong nước chế tạo để đáp ứng nhu cầu trực tiếp và gắn với mức sống của nhân dân trên địa bàn.
VLXKN là một ngành sản xuất cần kíp để đáp ứng yêu cầu xây dựng của Thủ đô, nhưng do công tác thị trường còn khó khăn nên mục tiêu hiện nay đặt ra cũng hết sức khiêm tốn: Phấn đấu đến 2015 sản lượng VLXKN chiếm từ 20 - 25%; và năm 2020 là 30 - 40%. Để đạt mục tiêu đó, Sở Xây dựng Hà Nội kiến nghị UBND TP áp dụng nhóm cơ chế chính sách đặc biệt quan trọng để định hướng thị trường, trong đó nhấn mạnh các vấn đề quan trọng như: Hạn chế sử dụng đất canh tác sản xuất gạch ngói đất sét nung, tăng cường bắt buộc sử dụng VLXKN vào công trình ngay từ khâu lập dự án đầu tư và thiết kế; tạo cơ chế chính sách khuyến khích ưu đãi đầu tư sản xuất VLXKN nói riêng và VLXD không nung nói chung. Quy hoạch ngay vùng nguyên liệu, vùng sản xuất VLXD trong đó có vật liệu không nung thay thế vật liệu nung truyền thống..v.v.
Created by MaiCongTruong1989™

Đây là trang nhạc của các webmaster vn nhacf.com - được viết với mục đích chỉ để nghe nhạc.
ReplyDeleteTrang nhạc trình bày đơn giản nhanh gọn chuyên nghiệp, nghe nhạc nhanh, tìm kiếm bhát dễ dàng.
Mới chỉ có ít người biết đến. nhưng nhacf được dân lập trình đánh giá rất cao về chất lượng và cách thể hiện.
Để làm trang web giống như nhacf.com, bạn có thể dùng blogspot để tạo & copy sourcecode của nó ở đây
Phù hợp với ~ người có sở thích đơn giản nhanh gọn và muốn khám phá..